Các vị vua Việt Nam giỏi nhất trong lịch sự

Lịch sử nước ta đã trải qua khá nhiều những giai đoạn thăng trầm và huy hoàng, nổi bật có thể nhắc tới các vị Viẹt Nam nổi tiếng tài giỏi như: vua Quang Trung Nguyễn Huệ, An Dương Vương, Lê Lợi …

Đây là những vị vua tên tuổi bậc nhất của nước nam và tiểu sử của họ là điều mà dân Việt nào cũng phải nhớ.

An Dương Vương

Các vị vua Việt Nam

An Dương Vương, là vị vua đầu tiên và duy nhất của nhà nước Âu Lạc, tên thật là Thục Phán.

Đây là triều đại nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang của các vua Hùng.

Theo sử cũ, An Dương Vương trị vị từ 257TCN đến 208TCN. Tần Thủy Hoàng đã thống nhất Trung Hoa vào thời kỳ đó và tiếp tục tham vọng xâm chiếm vùng đất phía Nam của các bộ tộc người Việt.

Tướng Đồ Thư chỉ huy quân Tần đã đánh chiếm nhiều vùng đất của Bách Việt, nhập vào lãnh thổ Trung Hoa.

Thục Phán lãnh đạo nhân dân chống giặc, khi Đồ Thư đem quân tiến sâu vào đất Lạc Việt. Thực hiện chiến lược vườn không nhà chống, quân Tần đi đến đâu, nhân dân Việt làm vườn không nhà trống đến đó.

Cứ như vậy kéo dài, Tần quân dần lâm vào tình trạng suy yếu do thiếu lương thực trầm trọng. Và khi chúng đã kiệt sức thì quân Âu Lạc xuất trận, quân Tần thua to, phải bỏ chạy về phương Bắc còn Đồ Thư mất mạng.

Sau chiến thắng, nhằm củng cố thêm khả năng phòng thủ quân sự, An Dương Vương cho xây thành Cổ Loa.

Theo tương truyền, tòa thành này có cấu trúc độc đáo gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, được củng cố bởi mạng lưới hào nước liên kết với nhau chạy dưới chân thành.

Bên cạnh đó, Dương Vương cũng cho chế tạo nhiều vũ khí lợi hại và phát triển thuỷ binh, tạo lợi thế quân sự vững chắc cho Cổ Loa.

Và Triệu Đà đem quân sang đánh nước Âu Lạc ta. An Dương Vương đã chống cự hiệu quả cuộc xâm lược này nhờ sự chuẩn bị quân sự tốt và ưu thế của thành Cổ Loa.

Thế nhưng,Triệu Đà lại dùng kế nội gián bằng cuộc kết hôn giữa con trai mình Trọng Thủy và con gái An Dương Vương là Mỵ Châu.

Thông qua con trai nắm được bí mật quân sự của An Dương Vương, Triệu Đà đã thành công trong việc chinh phục Âu Lạc, buộc An Dương Vương bỏ chạy và tự tử.

Lý Nam Đế

Các vị vua Việt Nam

Tên thật là Lý Bí, còn gọi là Lý Bôn, Lý Nam Đế (503 – 548), sinh ra trong hoàn cảnh nước Việt bị nhà Lương đô hộ.

Lý Bí tư chất thông minh, thể chất mạnh khỏe từ nhỏ, khi lớn lên trở thành một người văn võ song toàn, được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương.

Được Thứ sử Tiêu Tư nhà Lương mời ra làm chức Giám quân ở Đức châu (huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay), nhưng do bất bình với các quan lại đô hộ tàn ác nên bỏ quan về quê.

Sau đó ông chiêu binh mãi mã chống lại chính quyền đô hộ, và được nhiều người hưởng ứng. Lực lượng của ông khá lớn mạnh và thu phục được nhiều nhân vật xuất chúng như tù trưởng Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục, Tinh Thiều, lão tướng Phạm Tu…

Cuối năm 541, Bí đã liên kết với các châu lân cận và chính thức khởi binh chống nhà Lương. Tiêu Tư liệu không chống nổi khí thế mạnh của quân Lý, phải sai người mang của cải đến đút lót cho Lý để được tha chạy thoát về Quảng Châu và Lý chiếm được thành Long Biên.

Khi vua Lương Vũ Đế sai quân từ phường Bắc kết hợp với quân của các châu còn kiểm soát ở phía Nam tạo thành gọng kìm đánh Lý.

Vào tháng 4/542, Lý đã chủ động ra quân đánh trước. Nhờ đó mà phá tan lực lượng quân Lương ở phía Nam, làm chủ toàn bộ Giao Châu, đánh lui cuộc phản công của nhà Lương.

Không nguôi ý định trả thù, quân Lương lại tiến sang vào cuối năm 542. Được tin, Lý Bí chủ động mang quân ra bán đảo Hợp Phố đón đánh khiến quân xâm lược thảm bại, 10 phần chết đến 6 – 7 phần, kiểm soát thêm quận Hợp Phố thuộc Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay.

Giữa lúc Lý bận đối phó với nhà Lương ở phía Bắc thì vua nước Lâm Ấp “đục nước béo cò” đem quân đánh Giao Châu phía Nam vào tháng 5/543.

Phạm Tu cầm quân Lý đánh Lâm Ấp và thắng lớn. Đầu năm 544, Lý Bí lên ngôi, lấy hiệu là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô tại Ô Diên nay thuộc Đan Phượng, Hà Nội.

Đến năm 545, nhà Lương cử Trần Bá Tiên và Dương Phiêu sang đánh nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế bị thua trận, giao lại binh quyền cho Triệu Quang Phục.

Triệu Việt Vương

Các vị vua Việt Nam

Triệu Quang Phục tù trưởng huyện Chu Diên, là con Triệu Túc. Ông cùng cha theo nhà Lý khởi nghĩa từ ngày đầu, có công lao đánh đuổi quân Lương về nước, được trao chức tả tướng quân nước Vạn Xuân.

Năm 546, Triệu Quang Phục được ủy thác việc nước sau khi Lý Nam Đế thua trận phải lui về động Khuất Lạo. Ông nhận nhiệm vụ điều quân đi đánh Trần Bá Tiên của nhà Lương.

Tháng 1/547, ông rút về giữ đầm Dạ Trạch nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Nơi đây rộng lớn, cỏ mọc um tùm, bụi rậm che kín.

Nếu không quen biết đường đi thì lạc không biết là đâu, lỡ rơi xuống nước liền bị rắn độc cắn chết, ở giữa có nền đất cao có thể ở được. Bốn phía là bùn lầy, người ngựa khó di chuyên, chỉ có thể dùng thuyền độc mới vào được.

Khi đã thuộc rõ đường đi lối lại, ông đem hơn 2 vạn người vào đóng ở nền đất trong đầm. Dùng chiến thuật du kíc.

Ban ngày tuyệt không để khói lửa và dấu người, ban đêm dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh doanh trại của quân Bá Tiên cướp lương thực vũ khí làm kế cầm cự.

Năm 550, Phục tận dụng thời cơ nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi Trần Bá Tiên về, tung quân đánh tan quân Lương. Sau đó, ông vào thành Long Biên và xưng làm Triệu Việt Vương.

Đến năm 571, ông bị Lý Phật Tử – một người cháu của Lý Nam Đế là đã cướp ngôi. Tiếp tục giữ được sự độc lập thêm 30 năm nữa đến khi nhà Tùy sang đánh năm 602.

Ngô Quyền

Các vị vua Việt Nam

Ngô Quyền (898 – 944) lớn lên khi chính quyền đô hộ của nhà Đường đang suy yếu và tan rã, sinh ra trong một dòng họ hào trưởng có thế lực ở châu Đường Lâm.

Chính quyền khó lòng khống chế các thế lực hào trưởng người Việt ở địa phương. Do đó dẫn tới sự xác lập quyền lực của họ Khúc thành Đại La (năm 905) và họ Dương (năm 931).

Ngô Quyền trở thành con rể cho Dương Đình Nghệ, được tin cậy giao cai quản Ái châu, đất bản bộ của họ Dương.

Năm 937, Kiều Công Tiễn sát hại Dương Đình Nghệ để chiếm quyền và cầu cứu nhà Nam Hán để bảo vệ quyền lực của mình vì không có chỗ dựa chính trị vững chắc.

Trả thù cho nhạc gia, Quyền nhanh chóng tập hợp lực lượng, kéo quân ra Bắc, giết chết Kiều Công Tiễn và chuẩn bị quyết chiến với quân Nam Hán do Lưu Hoằng Tháo chỉ huy.

Khi cuộc chiến chuẩn bị diễn ra, ợi dụng chế độ thủy văn khắc nghiệt của sông Bạch Đằng, ông sai đóng cọc dưới lòng sông, đầu bịt sắt nhọn sao cho khi nước triều lên thì bãi cọc bị che lấp.

Khi thủy triều lên Quyền đã nhử quân Nam Hán vào khu vực này và đợi nước triều rút xuống mới giao chiến khi thuyền quân Nam Hán mắc cạn.

Kết quả, Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng cùng với quá nửa quân sĩ quân Nam Hán thua chạy, nhà Nam Hán phải từ bỏ giấc mộng xâm lược.

Mùa xuân năm 939, Ngô Quyền xưng vương, mở ra thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ cho Việt Nam, kết thúc hơn 1.000 năm Bắc thuộc.

Kinh đô của triều đại mới không nằm ở Đại La mà chuyển sang Cổ Loa. Ông được sử ghi lại là Tiền Ngô Vương.

Đinh Tiên Hoàng

Các vị vua Việt Nam

Đinh Bộ Lĩnh sinh vào thời kỳ đất nước bị nhà Ngô đô hộ năm 924 ở thôn Kim Lư, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay thuộc xã Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình).

Từ bé ông đã mê đánh trận giả và tỏ ra là người có khả năng chỉ huy, ông là con của Đinh Công Trứ, nha tướng của Dương Đình Nghệ.

Tình hình đất nước trở nên rối loạn sau các biến động chính trị dồn dập và từ năm 966 hình thành 12 sứ quân cát cứ nhiều vùng, sử gọi là loạn 12 sứ quân.

Đinh Bộ Lĩnh cùng con trai là Đinh Liễn đã tập hợp dân chúng ở vùng Hoa Lư, sang đầu quân trong đạo binh của sứ quân Trần Minh Công tức Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình).

Lĩnh thay quyền Trần Minh Công khi ông mất, đưa quân về Hoa Lư, chiêu mộ binh lính chống nhà Ngô và các sứ quân khác. Chỉ trong vài năm, ông liên tiếp đánh thắng 11 sứ quân nên có biệt hiệu là Vạn Thắng Vương.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế, niên hiệu Đinh Tiên Hoàng xóa bỏ tình trạng cát cứ, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.

Ông được gọi là người mở nền chính thống cho các triều đại phong kiến trong lịch sử khi là vị hoàng đế đặt nền móng sáng lập nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.

Theo chính sử, một viên quan là Đỗ Thích mơ thấy sao rơi vào miệng, tưởng là điềm báo được làm vua nên đã giết chết cả Đinh Tiên Hoàng và Thái tử Đinh Liễn.

Lê Đại Hành

Các vị vua Việt Nam

Mồ côi từ nhỏ Lê Hoàn sinh năm 941, được một vị quan là Lê Đột nhận về nuôi, lớn lên đi theo đội quân của Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn, lập được nhiều chiến công.

Lê Hoàn được giao chức vụ tổng chỉ huy quân đội cả nước Đại Cồ Việt khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi năm 968, trực tiếp chỉ huy đội quân cấm vệ của triều đình Hoa Lư khi mới 27 tuổi.

Khi cha con Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị sát hại, Lê Hoàn trở thành Nhiếp chính cho Vệ vương Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi vua năm 979.

Lê Hoàn và một số đại thần thân cận của Đinh Tiên Hoàng xảy ra tranh chấp quyền lực, ông đã giết chết các đối thủ và củng cố sự kiểm soát triều đình.

Nhà Tống ý định cho quân tiến vào đánh chiếm Đại Cồ Việt lúc triều đình Hoa Lư rối ren. Họ nhiều lần viết thư sang dụ và đe dọa triều Đinh bắt phải quy phụ đầu hàng.

Thái hậu Dương Vân Nga cùng các tướng lĩnh và triều thần phải tôn Lê Hoàn lên làm vua, lấy niên hiệu là Thiên Phúc.

Lê Đại Hành đã lãnh đạo quân dân đánh bại quân Tống ở các trận Bạch Đằng, Tây Kết đầu năm 981, giết và bắt sống nhiều tướng giặc chủ chốt, khiến quân Tống phải tháo chạy về nước.

Trong vòng 26 năm trị vì, ông đặc biệt quan tâm đến vùng đất phía Nam và đã tiến hành nhiều hoạt động quân sự lớn, đích thân cầm quân đánh dẹp mọi sự nổi dậy của những thế lực phản loạn và xâm lược.

Ông không chỉ bảo vệ vững chắc biên giới, mà còn trực tiếp chuẩn bị cho quá trình Nam tiến của người Việt.

Lý Thánh Tông

Các vị vua Việt Nam

Lý Thánh Tông (1023 – 1072), tên thật là Lý Nhật Tôn, là con trưởng của Lý Thái Tông, mẹ là Kim Thiên thái hậu Mai Thị ,là vị vua thứ ba của nhà Lý.

Ông nổi tiếng là một nhà quân sự lỗi lạc và  à một minh quân có nhiều đức độ trong lịch sử Việt Nam.

Trong thời kỳ trị vì của vua cha Lý Thái Tông, ông  đã nhiều lần cầm quân đi dẹp loạn, bảo vệ biên cương và lập nhiều chiến công khi mới 15 tuổi.

Được sử sách ghi nhận như dẹp bạo loạn ở Lâm Tây năm 1037, đánh châu Văn năm 1042, châu Ái năm 1043.

Sau khi Cha băng hà năm 1054, Lý Thánh Tông lên ngôi, tiếp tục ổn định tình hình trong nước và chú trọng mở rộng cương thổ.

Dưới thời gian ông trị vì, quân đội được tổ chức rất chặt chẽ và quy củ, có tiếng thiện chiến, khiến nhà Tống phải nể sợ, nhiều lần đánh đuổi quân Tống vào năm 1059 -1060.

Năm 1069 vua Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh nước Chiêm Thành phía Nam hay sang quấy nhiễu.

Trên đường đem quân trở về sau lần đầu đánh không thành công, vua nghe thấy nhân dân khen bà Nguyên phi Ỷ Lan (vợ vua) ở nhà giám quốc, trong nước được yên trị.

Ông liền nghĩ: “Người đàn bà trị nước còn được như thế, mà mình đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn ông hèn lắm sao?”

Thế là, Vua lại đem quân trở lại đánh và bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ. Và Chiêm đã phải dâng đất ba châu là Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính (ngày nay thuộc các huyện Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hoá, Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị) cho Đại Việt để chuộc tội.

Trần Nhân Tông

Các vị vua Việt Nam

Vua Trần Nhân Tông tên thật Trần Khâm (1258 – 1308), là vị vua thứ ba của nhà Trần. Ông được vua cha nhường ngôi vào năm 1278.

Là con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông với Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu Trần Thị Thiều.Ông là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và là người có công đầu trong kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ 2 và 3.

Hơn nữa, ông còn được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam.

Vua đã đóng vai trò của một ngọn cờ đoàn kết dân tộc, lãnh đạo quân dân Đại Việt vượt nhiều thời khắc khó khăn, đưa cuộc chiến đấu tới thắng lợi cuối cùng kháng chiến vào các năm 1285 và 1288.

Trong các cuộc chiến này, nhà vua vừa đưa ra được những quyết sách đúng đắn trong vai trò của một nhà chiến lược tài giỏi, vừa nhiều lần trực tiếp cầm quân đánh trận như một vị tướng dũng cảm.

Lê Thái Tổ

Các vị vua Việt Nam

Ông sinh năm 1385, giai đoạn lịch sử rối ren của đất nước, ở vùng đất Lam Sơn, Thanh Hóa, vào cuối đời nhà Trần.

Năm 1400, Hồ Quý Ly phế Truất nhà Trần nhưng chỉ được 7 năm, nhà Hồ sụp đổ trước sự xâm lược của quân Minh, nước Việt một lần nữa nằm dưới sự đô hộ của phương Bắc.

Năm 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt, kêu gọi dân Việt đồng lòng đứng lên đánh đuổi quân xâm lược Minh cứu nước, đồng chí hướng chính thức phất ngọn cờ khởi nghĩa Lam Sơn.

Tuy Cuộc khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn trong những năm đầu, Lê Lợi và nghĩa quân thường phải lẩn trốn trong rừng núi. Đến cuối năm 1425, kháng chiến thành công ông đã làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào, các thành của đối phương đều bị bao vây.

Cuối năm 1427, Lê Lợi chủ động đánh chặn các đạo quân do vua Minh điều sang nước Việt và giành thắng lợi lớn trong trận Chi Lăng – Xương Giang.

Khiến các cánh viện binh còn lại nghe tin, hoảng hốt rút về phương Bắc. Sau thất bại, quân Minh xin giảng hòa để rút quân. Lê Lợi đồng ý để quân xâm lược về nước để giữ hòa khí và sai Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh quân Minh.

Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế năm 1428, tức là vua Lê Thái Tổ, chính thức dựng lên vương triều nhà Lê. Ông khôi phục quốc hiệu Đại Việt, đóng đô ở Thăng Long và đổi tên Thăng Long thành Đông Kinh vào năm 1430.

Lê Thánh Tông

Các vị vua Việt Nam

Lê Thánh Tông là vị hoàng đế thứ 5 của nhà Hậu Lê (1442 – 1497) tên thật là Lê Tư Thành, là con thứ 4 của vua Lê Thái Tông và bà tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao. Sau cuộc đảo chính do Nguyễn Xí và Đinh Liệt cầm đầu, ông giết chết vua Lê Nghi Dân và lên ngôi năm 1460.

Ông nổi tiếng là vị minh quân trong thời gian trị vì, người đã đưa Đại Việt lên tới thời hoàng kim của chế độ phong kiến.

Đồng thời để lại nhiều dấu ấn trên phương diện quân sự trong lịch sử Việt Nam. Vua ra sắc chỉ đầu tiên là chỉnh đốn lại quân đội để tăng cường khả năng bảo vệ đất nước sau khi lên ngôi.

Vua thường tự mình thân chinh đi tuần phòng ở các vùng biên ải xa xôi, trở thành tấm gương tốt cho các quan phụ trách võ bị.

Vũ khí quân sự dưới thời ông đã có những tiến bộ vượt bậc, do vốn có các kỹ thuật và sáng chế cùng kĩ năng chế tạo vũ khí cực kì tinh xảo của Đại Việt thời nhà Hồ, kết hợp với số vũ khí khá tân tiến thu được trước đây trong cuộc kháng chiến với nhà Minh.

Chúa Nguyễn Hoàng

Các vị vua Việt Nam

Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) sinh ra ở Thanh Hóa là con trai thứ hai của An Thành Hầu Nguyễn Kim, là vị chúa đầu tiên trong số 9 chúa Nguyễn trước khi nhà Nguyễn hình thành.

Nguyễn Hoàng là một tướng tài lập nhiều công lớn dưới triều Lê trung hưng. Năm 1545, Dương Chấp Nhất đầu độc cha ông là Nguyễn Kim khiến quyền lực trong triều rơi vào tay anh rể ông là Trịnh Kiểm.

Sau này, anh ruột Nguyễn Uông của ông cũng bị Trịnh Kiểm giết.
Do lo sợ bị sát hại, Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ ở Thuận Hoá (khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên – Huế ngày nay).

Năm 1558, ông xưng chúa tại đây, lập thủ phủ ban đầu là xã Ái Tử, huyện Đăng Xương (nay thuộc huyện Triệu Phong) tỉnh Quảng Trị.Từ đó cho đến đầu những năm 1600, từng bước trở thành một thế lực độc lập với họ Trịnh, Nguyễn Hoàng lo phát triển và củng cố lực lượng của mình.

Năm 1611 ông đã thực hiện cuộc Nam tiến để mở rộng bờ cõi, chiếm đất từ đèo Cù Mông (bắc Phú Yên) đến đèo Cả (bắc Khánh Hòa) của vương quốc Chăm-pa đang suy yếu, lập thành phủ Phú Yên. Giang sơn họ Nguyễn trải dài từ vùng đèo Ngang, Hoành Sơn (nay thuộc Hà Tĩnh) tới núi Đá Bia (nay thuộc Nam Phú Yên).

Các sử gia đời sau coi ông là người tiên phong trong việc mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía Nam. Mở đầu cho việc hùng cứ phương Nam của 9 vị  vua chúa Nguyễn. Tạo tiền đề cho việc thành lập vương triều họ Nguyễn.

Hoàng đế Quang Trung

Các vị vua Việt Nam

Vua Quang Trung – Nguyễn Huệ (1753 – 1792) là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn. Ông là con của Nguyễn Phi Phúc một người chuyên nghề buôn trầu và làm ăn phát đạt, cùng hai người anh em là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ.

Năm 1771, chống lại sự áp bức của quyền thần Trương Phúc Loan, ủng hộ hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ cất binh khởi nghĩa.

Xây dựng căn cứ chống chính quyền chúa Nguyễn tại Tây Sơn, Nguyễn Huệ giúp quân Tây Sơn đánh bại chúa Nguyễn đầu những năm 1780, đã chứng tỏ được tài quân sự xuất chúng của mình trong cuộc chiến này.

Quân của ông dưới danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh” cũng tiến ra Bắc lật đổ tập đoàn họ Trịnh. Chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn.

Sau các thất bại lớn, Nguyễn Ánh cầu cứu quân Xiêm dẫn đến trận Rạch Gầm – Xoài Mút đầu năm 1785,  trận đánh lớn trên sông giữa liên quân Xiêm – Nguyễn và quân Tây Sơn. Tại đây, kết quả toàn thắng thuộc về quân Tây Sơn.

Ngày 22/12/1788, sau khi Lê Chiêu Thống “cõng rắn cắn gà nhà”, đưa quân Thanh về cướp nước, Nguyễn Huệ đã lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung.

Ngay hôm sau, ông thực hiện một cuộc hành quân thần tốc ra miền Bắc để đánh quân Thanh, tiến như vũ bão và đánh bại kẻ thù trong trận quyết chiến ở Ngọc Hồi – Đống Đa năm 1789.

Sau khi đẩy lùi quân phương Bắc, vua Quang Trung lại phải chiến đấu với Nguyễn Ánh để thống nhất đất nước.

Thế nhưng, sự đột ngột qua đời năm 1792 ở tuổi 40 của vua, khiến kế hoạch này đã không bao giờ được hoàn thành. Sau khi hoàng đế Quang Trung mất, nhà Tây Sơn suy yếu, sụp đổ nhanh chóng.

Quang Trung – Nguyễn Huệ được ghi nhận như một trong những nhà quân sự lỗi lạc nhất của lịch sử Việt Nam, chưa từng biết đến thất bại trên chiến trận. Hình ảnh người anh hùng áo vải Tây Sơn lại lần nữa ghi dấu trong lòng dân việt.

Những năm tháng hào hùng của các quân vương thật khiến chúng ta không khỏi khâm phục. Các nhà làm phim cũng đã khiến bao khán giả xem phim tự hào về một việt nam hào hùng, với những thước phim về vua quang trung, vua lê thánh tôn, An dương vương…

Qua những chính sách trị vị, lãnh đạo của các vị vua tài giỏi đã đưa lịch sử Việt Nam vang danh khắp Thế Giới. Người dân Việt Nam cũng tụ hảo với truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc mình quà hàng ngàn năm lịch sự.

Điều đó chứng tỏ dù trong hoàn cảnh nào, những người dân việt cũng tự mình vươn lên bất khuất, không chịu làm nô lệ. Lịch sử của chúng ta phản ánh gần như toàn bộ tinh thần này của dân tộc ta.

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *