Giải đáp những bí ẩn trong sấm trạng trình

Lịch sử nước việt trải qua bao biến cố, bao đời thay da đổi thịt, tiếng việt cũng bao lần bị trù dập. Thế nhưng, đất nước vẫn đứng vững trước bão táp phong ba là nhờ những nhà tiên tri đại tài nguyễn bỉnh khiêm. Ông nổi tiếng với những câu sấm ký được biên tập thành tuyển tập sấm trạng trình mà chúng ta sẽ nói sau đây.

Nhà tiên tri số 1

Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi, đời vua Lê Thánh Tông (tức năm Hồng Đức thứ 22 – năm 1491). Ông sinh trưởng trong một dòng tộc danh gia, tại làng Trung Anh, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương – nay là làng Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, TP.Hải Phòng. Cha ông là Quận công Nguyễn Văn Định Thái Bảo Nghiêm, mẹ là bà Nhữ Thị Thục – con gái của quan Thượng thư Nhữ Văn Lân, tinh thông lý số.

Cụ Trạng hưởng thọ 94 tuổi, mất năm ất Dậu (1585). Dân gian truyền tụng và suy tôn Trạng Trình là nhà tiên tri số 1 về tương lai việt nam. Người Trung Hoa thì coi ông là “An Nam lý số hữu Trình tuyền” và nhất mực kính nể.

Hoành sơn nhất đái…

Không thể phủ nhận được rằng sấm trạng trình chỉ là những lời tiên tri chưa được xác thực, vai trò của nó được cho là khá quan trọng trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam. Với tài lý số của mình, cụ đã tạo ra được những kỳ tích, mà đến nay hậu thế cũng chưa giải mã hết được. Cũng như toàn tập về cụ là những ẩn số về tài danh của một kỳ nhân.

Tài năng của ông được bộ lộ ngay lúc sinh thời, bằng tài lý số của mình, ông “cứu vãn” cho triều đình nhà Mạc tồn tại được một thời gian khá dài. Năm 45 tuổi, dưới thời nhà Mạc, ông mới đi thi và đậu Trạng nguyên. Vua Mạc Đăng Doanh đưa ông lên làm Tả thị lang Đông các học sỹ.

Nhưng cuộc đời quan trường sóng gió, sau khi dâng sớ hạch tội 18 lộng thần không được vua chấp thuận, ông đã cáo quan về ở ẩn. Thời ấy, có tới ba triều đại cùng tồn tại là nhà Mạc, nhà Nguyễn, nhà Trịnh, đất nước đang trong giai đoạn hỗn loạn. Chuyện triều nhà Mạc lâm nguy cũng sớm muộn, vua Mạc đương triều mới sai người đến hỏi ông. Ông đã đưa ra lời sấm cho nhà Mạc rằng: “Cao Bằng tàng tại, tam đại tồn cô”.

Theo đó, nhà Mạc lên Cao Bằng, tồn tại được thêm 3 đời nữa. Lời sấm có nghĩa là nếu chạy lên Cao Bằng thì sẽ tồn tại được 3 đời. Miền đất Cao Bằng được trấn ải bằng một thế lực phong kiến khiến các triều đại Trung Hoa thời kỳ đó khó xâm phạm. Nên nước Việt trong một thời gian dài bình yên, việc nhà Mạc chạy lên Cao Bằng dựng nghiệp là vô cùng sáng suốt.

Hơn nữa, Đất Quảng Uyên (tên gọi của đất Cao Bằng xưa) được người Trung Hoa đặc biệt coi trọng. Họ cho rằng nơi đó được cho rằng có nhiều mỏ vàng dễ khai thác, là nơi trời phú cho đất việt.

Nhà tiên tri cũng đưa ra lời sấm “An Nam lý số hữu Trình tuyền” cho nhà Nguyễn. Đất nước ta có hình thái như ngày hôm nay là nhờ nhà Nguyễn mới tiến vào Nam mở rộng bờ cõi. Sử sách ghi lại năm 1568, chúa Nguyễn Hoàng khi đó thấy anh mình là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết chết. Nghĩ số phận của mình cũng đang lâm cảnh nguy cấp, Nguyễn Hoàng đã sai người đến am Bạch Vân diện kiến Trạng Trình ở để xin lời sấm.

Câu chuyện cụ Trạng chỉ vào đàn kiến đang bò và cầm tay sứ giả dắt ra hòn non bộ bảo: “Hoành sơn nhất đái khả dĩ dung thân” còn lưu truyền đến ngày nay. Nghĩa là một dải Hoành sơn có thể dung thân được. Hiểu được ngầm ý ấy, Nguyễn Hoàng nhờ chị xin với anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa từ đèo Ngang trở vào. Giang sơn nhà Nguyễn nhờ đó mà dựng nên ở phương Nam.

Hy vọng sẽ giữ được cơ nghiệp mãi mãi, nhà Nguyễn đã đổi câu sấm của Trạng Trình thành: “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân”. Ta nhận thấy rằng, Trạng Trình có tầm ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành địa đồ quốc gia Việt Nam hiện nay. Việc nhà Nguyễn di chuyển vào vùng Thuận Hóa tạo điều kiện mở rộng bờ cõi nước Việt xuống phía Nam chính là nguyên nhân của cớ sự này.

Phải giữ được Biển Đông!

“Sấm Trạng Trình” là nhiều câu sấm ký lưu truyền về tài tiên tri của cụ, người được xem là người đầu tiên trong lịch sử nhắc đến Quốc hiệu Việt Nam. Ngàn bài thơ văn với những giá trị nhân đạo, giàu chất triết lý, đầy tình yêu nước và là kho tàng Minh triết cho muôn đời sau. Cụ để lại cho đời một di sản văn hóa đồ sộ bậc nhất nước nam.

Ngoài câu sấm ký “Hoành sơn nhất đái khả dĩ dung thân”, thì về Biển Đông, cụ Trạng cũng có lời tiên tri, dạy rằng: “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/Đất Việt muôn năm vững trị bình”. Với bài thơ Cự Ngao Đới Sơn, những lời sấm truyền này được ghi rõ trong Bạch Vân Am Thi tập. Trong đó có câu: “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/Đất Việt muôn năm vững trị bình/Chí những phù nguy xin gắng sức/Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình”.

Với con mắt chiến lược, dường như cụ nhìn thấy đại cục thiên hạ ngàn năm nên đã khuyên thế hệ sau phải nắm giữ được Biển Đông thì đất nước mới thái bình, thịnh trị muôn đời. Lời sấm này cũng được nhắc đến trong những bài luận về yêu nước, về đảng cộng sản, về hồ chí minh, về võ nguyên giáp một cách rõ rang. Nhằm nhấn mạnh việc tuân giữ lời cha ông căn dặn từ ngàn xưa.

Rất thời sự, bài thơ có tuổi đã khoảng 500 năm mà tận bây giờ, 2017 đọc lại nhưng càng đọc, càng thấy rất “kim nhật kim thì”. Bài thơ nguyên là để nói cái chí của cụ “Chí những phù nguy xin gắng sức” (Ngã kim dục triển phù nguy lực)nhưng ta lại những tưởng như cụ Trạng Trình đang nói với chính chúng ta hôm nay. Đọng lại trong đó một tư tưởng chiến lược, một dự báo thiên tài: “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/Đất Việt muôn năm vững trị bình/Vạn lý Đông minh quy bả ác/ức niên Nam cực điện long bình”.

Qua thời gian, chúng ta càng thấy những câu thơ sấm truyền của cụ Trạng mang tính thời sự thức thời đối với người Việt Trải khi qua không ít thực tế. Hai câu thơ càng khiến lay động từ sâu thẳm ý chí của người Việt, mang tính dự báo chiến lược về cái tâm thức bám biển, giữ biển của dân tộc. Ta thấy rõ người Việt đã là những cư dân sông nước, cư dân của văn hóa biển đảo, tự ngàn xưa.

Nhà nghiên cứu, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, người có “duyên” làm bộ phim Nguyễn Bỉnh Khiêm – Cây đại thụ rợp bóng 500 năm đã góp phần giải mã cuộc đời một kỳ nhân nhận định. Với kho sấm truyền của cụ Trạng, những lời sấm không chỉ ứng với nước ta mà còn ứng đúng với hai cục diện trên thế giới.

Cục diện thứ nhất là đại chiến thế giới lần thứ II. Đại chiến thế giới khởi đầu từ khi phát xít Đức tấn công Ba Lan, từ năm 1940 đã bắt đầu rục rịch (cuối năm Thìn – Long vĩ) khởi đầu chiến tranh, đến năm 1941 (đầu năm Tỵ – Xà đầu) Hitler tấn công Liên Xô (cũ). Qua cuối năm 1942, giữa năm 1943 (Mã đề dương cước) thì đến năm 1944 – 1945 (Thân Dậu niên lai kiến thái bình) mới qua khỏi nạn chiến tranh.

Cục diện thứ hai là cuộc chiến tranh Iraq cũng xảy ra vào cuối năm Thìn (2000), đầu năm Tỵ (2001) rồi kéo dài đến hết năm Thân – Dậu mới ổn.

Với tầm thông tin còn đang được xem xét, bài viết này vẫn chưa thể giải mã hết những điều gọi là sấm trạng trình của nhà tiên tri đại tài. Nhưng đây cũng là một niềm tự hào của con cháu nước nam, của loài con rồng cháu tiên về một nhân vật lịch sử được kính nể và lưu truyền hậu thế.

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *